12/04/2026
Biết thờ Phật, cúng Phật, lễ Phật và thường thắp hương cầu nguyện Phật trời gia hộ mạnh khỏe, công việc thuận lợi, người quá vãng được sanh về cõi tốt lành… Người biết đi chùa, biết thờ Phật, cúng Phật, lễ Phật, nghe chư Tăng thuyết giải giáo pháp và tự nhận mình là Phật tử là chưa đúng pháp. Bởi người muốn bước vào ngôi nhà Phật pháp, muốn trở thành tín đồ chánh tín thì điều trước tiên là phải quy y Tam bảo.
1- Quy-y:
Quy là trở về, theo về; Y là nương tựa, nương nhờ hay thuận theo, làm theo lối đã định. Quy-y là trở về nương tựa.
2- Tam bảo:
Tam bảo là ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Được người đời tôn xưng là ba ngôi báu vì Đức Phật, giáo Pháp, chư Tăng mới có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những nổi khổ niềm đau của cuộc đời.
a. Phật:
Tiếng Phạn Buddha, dịch âm là Phật-đà, là bậc đại trí đại bi, bậc giác ngộ trên ba phương diện: Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Đức Phật có mười hiệu, mỗi danh hiệu tôn xưng một đặc tính hay một địa vị chứng ngộ khác nhau của Đức Phật:
1. Như Lai: Người đã đến như thế, người đã đến từ cõi chân như.
2. Ứng Cúng: Người đáng được cúng dường, đáng được tôn kính.
3. Chánh Biến Tri: Người hiểu biết đúng tất cả pháp.
4. Minh Hạnh Túc: Người có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh.
5. Thiện Thệ: Người đã đi, đã khéo vượt qua tất cả một cách tốt đẹp.
6. Thế Gian Giải: Người đã thấu hiểu thế giới.
7. Vô Thượng Sĩ: Đấng tối cao, không ai vượt qua.
8. Điều Ngự Trượng Phu: Người đã điều phục được mình và nhân loại.
9. Thiên Nhân Sư: Bậc thầy của cõi người và cõi trời.
10. Phật Thế Tôn: Bậc giác ngộ thế gian tôn kính.
Trong tự thân mỗi danh hiệu đã bao gồm đặc tánh của các danh hiệu khác. Do vậy chỉ cần gọi tên một danh hiệu là đã thâu nhiếp các danh hiệu khác.
b. Pháp:
Tiếng Phạn Dhamma, dịch âm là Đạt-ma, là từ dùng để chỉ cho lời dạy mà Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết trong thời gian 45 năm (theo Phật giáo Nam truyền) truyền giáo của Ngài, bao gồm ba tạng: Kinh, Luật và Luận. Tính chất đặc biệt của pháp là “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí chứng hiểu”.
Pháp thiết thực hiện tại biểu hiện qua sáu nghĩa:
1. Pháp do Thể Tôn khéo thuyết giảng.
2. Thế Tôn luôn dựa trên căn tánh, cơ duyên chúng sanh mà nói.
3. Pháp luôn được giảng dạy trên tinh thần khế lý, khế cơ.
4. Pháp được khai triển, hiện hữu giữa cuộc đời vì khổ đau có mặt.
5. Pháp để thực hành, tu tập và chứng ngộ để thoát khỏi khổ đau.
6. Tất cả chỉ vì một mục đích là đem lại hạnh phúc, an lạc, giải thoát cho những ai học pháp, hành pháp và an trú trong chánh pháp.
c. Tăng:
Tiếng Phạn Shanga, dịch âm là Tăng-già, tên gọi khác là hòa hợp chúng. Đây là khái niệm dùng chỉ chung cho đoàn thể của những người xuất gia tu học theo giáo pháp của Đức Phật, gồm ít nhất là bốn vị Tỳ-kheo (hay Tỳ-kheo ni) trở lên. Tăng gồm những người thành tựu lòng tin tuyệt đối với Đức Phật, với giáo Pháp, với chúng Tăng và thể hiện qua bốn đặc tính:
1. Diệu hạnh: Hạnh lành, luôn tăng trưởng các pháp thiện và giữ gìn đầy đủ oai nghi tế hạnh của một người tu sĩ.
2. Trực hạnh: Tâm hạnh chất trực, thẳng thắn.
3. Như lý hạnh: Ứng hợp với trí tuệ. Ba nghiệp thân, miệng, ý dù móng khởi, tác ý hay hành động đều đúng như chánh pháp.
4. Chánh hạnh: Phạm hạnh thanh tịnh.
Thành tựu bốn hạnh lành này là xứng đáng được tôn kính, là ruộng phước cho chúng sanh gieo trồng hạt giống thiện và là người thay thế đức Thế Tôn truyên dương chánh pháp.
3- Ba hình thức Tam Bảo:
a. Đồng Thể Tam Bảo:
- Đồng thể Phật bảo: Tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.
- Đồng thể Pháp bảo: Chúng sanh cùng chư Phật đồng một pháp tánh từ bi bình đẳng.
- Đồng thể Tăng bảo: Chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh và hòa hợp.
b. Xuất Thế Gian Tam Bảo:
- Xuất thế gian Phật bảo: Chư Phật trong mười phương ba đời: Quá khứ, hiện tại và vị lai.
- Xuất thế gian Pháp bảo: Chánh pháp của Phật như: Tứ-đế, Ngũ-uẩn, Lục-độ, Thập-nhị-nhân-duyên, v.v...
- Xuất thế gian Tăng bảo: Chỉ cho các vị Thánh Tăng đã ra khỏi sự ràng buộc của thế gian như tôn giả Ca-Diếp, A-Nan v.v...
c. Thế Gian Trụ Trì Tam Bảo:
- Thế gian trụ trì Phật bảo: Chỉ cho Xá-lợi Phật, tranh ảnh Phật, tượng Phật,…
- Thế gian trụ trì Pháp bảo: Tam tạng giáo điển: Kinh, Luật, Luận hiện đang lưu hành.
- Thế gian trụ trì Tăng bảo: Chỉ các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đang sống cuộc đời tỉnh giác và thực hành nhiệm vụ hoằng truyền chánh pháp.
4- Quy-y Tam-bảo:
a. Quy y Phật bảo:
Quy Y Phật là hàng ngày chúng ta phải nhớ tưởng đến Phật, niệm danh hiệu Phật, chiêm ngưỡng hình tượng Phật và nguyện suốt đời theo bước chân Ngài. Quy y Phật còn ý nghĩa nữa là trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình.
Mỗi người đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng. Phật tánh chúng ta bị vọng tưởng vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn, nếu như chúng ta trở về sống với Phật tánh sáng suốt ấy thì con đường đi đến thành tựu quả vị của đức Phật sẽ không xa.
Người quy y Phật sẽ không quy y Thiên thần quỷ vật.
b. Quy y Pháp bảo:
Quy y pháp là thường ngày học Kinh, Luật, Luận, tìm hiểu nghĩa lý, suy nghiệm nghĩa lý và đem nghĩa lý áp dụng vào đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Bên cạnh đó chúng ta sắp xếp thời công phu tu tập. Khi thực hành thời khóa không để tâm tán loạn, nghĩ tưởng mông lung mà phải đưa tâm trở về trạng thái an định, nhờ tâm an định mà phát sinh trí huệ. Có trí huệ giúp chúng ta vượt qua nổi khổ niềm đau, từ bỏ tâm tham lam ích kỷ, dục vọng thấp hèn,…
Trong tâm ta có đủ tất cả các Pháp: Từ bi, Trí tuệ, bình đẳng, sáng suốt,... chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và thực hành theo chúng, tuân theo chúng. Chỉ có phương pháp của Phật là đầy đủ công năng để đưa chúng ta qua khỏi biển khổ, đến bờ giải thoát. Đó chính là quy y Pháp.
Người quy y pháp không tin theo tà kiến.
c. Quy y Tăng bảo:
Tăng là một đoàn thể tu hành từ bốn vị Tỳ-kheo (Tỳ-kheo-ni) trở lên, sống cùng một trú xứ, cùng giữ giới luật đức Phật chế định, cùng chia sẻ cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được, từ vật chất đến tinh thần. Thế gian thường nói: "Trọng Phật, phải kính Tăng". Cho nên, nếu chúng ta thành tâm thờ Phật thì phải thật dạ kính Tăng. Khi thấy người xuất gia tu hành, giữ gìn giới luật, thì liền kính nể, quý trọng, vì vị đó là đại diện cho đức Phật hoằng truyền chánh pháp trong hiện tại.
Quy y Tăng là vâng theo Thầy trong tâm mình, là đức tánh hòa hợp thanh tịnh của mình, như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình mê muội, không nhận thấy được ông Thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông Thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy-y với Thầy của mình.
Người quy y Tăng không theo thầy tà bạn ác.
Vậy quy y Tam bảo là trở về nương tựa ba ngôi báu, gồm Phật, Pháp, Tăng. Về sự, quy y Tam bảo có nghĩa là nương tựa vào Đức Phật, vào giáo Pháp và vào Tăng chúng. Về lý, quy y Tam bảo nghĩa là nương theo tánh giác ngộ của mình, nương theo sự chân chánh không tà kiến, nương theo đức tánh thanh tịnh không nhiễm trước. Thế nên người quy y Tam bảo sẽ đạt được sự an ổn vô hạn của tâm thức, thoát ly mọi khổ não và là chỗ quay về nương tựa hướng thượng chơn chánh, thiết thực với căn tánh mỗi người.
Người tu học Phật pháp khi vào đạo phải thực hiện nghi thức quy y; thệ nguyện quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng xong mới chính thức được xem là một người đệ tử Đức Phật. Người đó có thể là một Phật tử tu tại gia hay là người tu sĩ sống đời sống xuất gia trong tăng đoàn.
5. Những người đệ tử tại gia đầu tiên của Đức Phật:
Đệ tử đầu tiên của Đức Phật là hai vị thương gia Đề-lê-phú-bà và Bạch-lê-ca. Hai vị này chỉ thọ hai pháp quy y vì lúc bấy giờ chưa có Tăng.
Đệ tử Ưu-bà-tắc quy y Tam bảo đầu tiên của Đức Phật là cha của tôn giả Da Xá.
Đệ tử Ưu-bà-di quy y Tam bảo đầu tiên của Đức Phật là mẹ và vợ của tôn giả Da Xá. ❤️❤️❤️🙏🏻🙏🏻🙏🏻
Duyên lành!
Chị ơi em muốn đặt pho tượng Phật tổ cúng dường.
Vậy à tuyệt vời quá tán thán công Đức của em cho chị hùn Phước với ❤️duyên lành
Hai chị em đủ duyên được làm thiện pháp ❤️❤️🙏🏻🙏🏻🙏🏻!